Cuộc đụng độ của hai ông ‘giận là lên máu’

Một ông đói thì giận run tay. Một ông bưng bê cũng “nhạy cảm” mà giận hờn. Hai ông có bệnh giống nhau.

Tôi là một cái bàn ba chân bằng nhau, chân thứ tư… cà thọt. Có tật nên tôi có tài… hóng chuyện. Tôi mần việc trong một quán phở, ngày nào cũng tất bật, trên mặt đầy những dĩa rau, dĩa chanh, chai tương, chén ớt. Sáng nay, tôi tập trung chú ý vào một ông khách vừa đến trước cửa quán với vẻ nôn nóng. Sáng nào ông ta cũng đi ra từ con hẻm nhỏ gần quán.

Thấy tôi quá bận vì khách đông hơn mọi ngày, ông ta ghé tạm xuống một cái bàn gần cửa. Một lúc sau, cái bàn cạnh tôi vừa trống là ông ta tiến vào ngay. Vẻ giận dữ, ông ta quơ tay gạt những thứ trên bàn sang một bên. Im lặng một lúc, chợt ông ta ngước mặt lên trần nhà, nói lớn: “Ăn hết ngon!”. Tôi giật thót… bàn. Khách đang ăn cũng giật… mình.

Ông khách này có bộ mặt rỗ hoa. Tướng to đùng nên ông ta đúng là loại người hao xăng, tốn nhiên liệu, tánh xấu đói. Bà nấu phở thì thào với chồng: “Anh hỏi coi ổng ăn gì?”. Ông khách đốp ngay: “Hỏi mẹ gì nữa. Giờ có nấu vàng ăn cũng hết ngon!”. Chồng bà nấu phở đứng gần đó, không nhìn ông khách, cũng không thèm hỏi theo lời vợ nhắc. Rồi ông khách tự động hô: “Tô khô như cũ. Nước lèo mỡ nổi, đầu gà để riêng”.

Chồng bà nấu phở quay đi, rồi nhanh chóng trở lại, trên tay là tô phở… khô queo không có nước lèo, dằn mạnh tay trước mặt ông khách. Ông khách cay cú vừa nhìn tô phở vừa cằn nhằn, rồi nghiến răng… lặt các loại rau. Hằn học múc tương ớt tương đen. Bực bội bỏ giá sống, bỏ ớt vô tô. Lầm bầm nặn chanh.

Cuối cùng, ông ta quạu quọ thò đũa cuộn tròn một mớ phở kiểu như anh Tây ăn mì Ý, cho cuộn phở vô miệng hút một phát là bao nhiêu sợi phở tuột thẳng vào cổ họng. Xong, hai tay ông ta trịnh trọng bưng tô nước lèo, tái nạm, mỡ nổi, nước béo lên, húp một ngụm lớn, mặt dãn ra với vẻ khoái trá.

Thiệt tình, cả đời nhìn người ta ăn phở nhưng tôi chưa từng thấy ai ăn phở khô một cách kỳ cục như cha nội này. Ông ta lại la lên: “Hành chần củ cải” bằng cái miệng láng mỡ, mồ hôi thì đang nhỏ giọt trên trán. Trong lúc chờ hành đem ra, ông ta cau có nhìn quanh, nói lớn: “Nhìn cái gì? Tui bị lên máu, đói là hạ đường huyết, tay run vầy nè… Sáng mà không kịp ăn có khi chầu trời. Tui tới quán trước, kêu xong chờ cả nửa tiếng đồng hồ, dài cổ dài râu mà thằng chả cứ bưng cho người khác. Ăn hết ngon!”.

Quán chỉ có hai người làm việc. Người đàn bà đứng nấu phở có cái mông to, dữ tướng, đôi môi mỏng quẹt son tím rịm kiểu phim Hàn Quốc, lúc nào cũng mím chặt. Ông chồng bà nấu phở to con, da nâu sẫm, chân mày xếch ngược trên cái trán thấp. Mắt lộ, trắng dã, ria mép lỉa chỉa trên đôi môi dày cứ như muốn chọc vào miệng. Dưới cằm là mớ râu quai nón hung hung đỏ. Mặt như sinh sự. Chân đi chấm phẩy như… tôi, nên được gọi là Hai thọt.

Biết ông khách đó dữ tánh lại phàm ăn, nên bà vợ cằn nhằn ông chồng: “Sao anh không bưng cho ổng trước đi. Khổ ghê!”. Ông chồng nghiến răng: “Tao mà thấy nó vô là… chết liền”. Rồi ông râu đỏ lượm mấy cọng hành, múc nước lèo cho vào tô. Ông vừa nhúng cọng hành vô nước nóng, vừa nghiến răng, vừa chưởi thề.

Rồi vừa vớt cọng hành ra, ông vừa cự nự, lầm bầm như muốn vứt cọng hành xuống đất. “Mày mà gặp tao mấy năm trước là rửa cẳng leo lên bàn thờ ngồi chứ ở đó mà hành với chần…” – ông ta gầm gừ, hàm răng vàng khè vì thuốc lá nghiến chặt, từng thớ thịt nổi lên trên cái hàm đang bạnh ra. Ông cà nhắc tới bàn ông khách, tay cầm chén hành chần với vài miếng củ cải trắng.

Lại dằn mạnh chén hành trước mặt khách, ông rít qua kẽ răng: “Mày biết cái tánh khốn nạn của tao rồi mà. Khùng lên là tao chém chẳng từ thằng nào. Đừng có mà giở giọng kiểu đó, nghe chưa!”. Ông lại khập khiễng quay qua bà vợ, chụp con dao thái thịt, phập mạnh vào cái thớt mòn. Bà vợ giật dao lại, trợn mắt: “Buôn bán gì mà như xã hội đen vậy, mất khách là chết đói cả đám”.

Vậy là sáng nay hai ông… bạn hiền lại đụng độ. Một ông đói thì giận run tay. Một ông bưng bê cũng “nhạy cảm” mà giận hờn. Hai ông có bệnh giống nhau. Giận là lên máu.

Cũng là chuyện bình thường trong cái cõi đời nhiêu khê này. Chuyện rồi cũng qua. Ông chồng dữ tướng nhưng sống nhờ vợ nên cũng… ngoan, nghe vợ nên liệng con dao, bước ra cửa, một tay cầm ly trà đá, tay kia cầm cây quạt phất phành phạch tự làm nguội mình.

Còn ông khách thì cũng chẳng phản ứng lại cái vẻ sinh sự kia, mà quay sang chăm chú với tô phở của mình. Người lạ nếu vô tình đến quán, chắc chắn không khỏi há hốc mồm khi thấy cách ông ta xử cái đầu gà to tướng trong tô, do chính ông ta nhờ luộc. Ngắm nghía chán, ông ta moi óc gà bỏ vô miệng, lại moi tiếp hai con mắt gà chết đục ngầu nuốt trộng.

Rồi ông ta hôn lên cái đầu gà tím tái, cạp cái mào gà nhai trệu trạo, miễn cưỡng nuốt xuống. Ông ta ăn cái đầu gà một cách vừa sợ hãi, vừa thành kính như đang hành lễ. Nhìn ông thật quái lạ nhưng cũng tồi tội, lại buồn cười. Mặt ông ta như chúi xuống mặt bàn, cái mỏ gà nòi áp vào giữa môi như đang… hôn tình nhân, mắt nhắm lại đê mê.

Tôi chỉ là cái bàn cũ khập khiễng ở góc tường, lại cặp kè với cái ghế khá cao, cũng sứt tai gãy gọng, nên chẳng khách nào muốn ngồi. Chỉ ông mặt rỗ là chuộng cái góc này vì có phần khuất mắt nhân gian. Ông mặt rỗ còn còn có cái tên Ba gà mổ, vì từng là một tay chơi gà chọi khét tiếng. Ông ta ăn phở ở đây như ăn một cái đám giỗ nhỏ, chén dĩa đầy bàn.

Vừa nhai, vừa chắp tay, vừa rơm rớm nước mắt làm lễ với cái đầu gà. Chuyện dù kỳ dị nhưng có nguyên nhân của nó. Đó là một ngày, các tay đá gà độ chiêu đãi nhau tại quán, trong đó có Ba gà mổ, rồi sinh cãi vã, đánh nhau. Ông Hai bị trượt chân vì nền nhà đầy mỡ. Hôm sau mắt cá chân ông sưng vù, đau nhức không chịu nổi. Bà Hai đưa ông đi Tây y, bác sĩ nói: “Ông bị nứt xương chảy tủy rồi, phải mổ thôi, mà cũng không chắc hết chảy tủy”.

Chạy chữa cả năm chân ông Hai vẫn chảy tủy, phải cưa bỏ bàn chân. Từ đó ông Hai trở nên “nhạy cảm” vì đã thành Hai… thọt. Cám cảnh một hảo hán phải xếp giáp về bưng phở cho vợ, nhăn nhăn nhó nhó cố hạ mình chiều loại khách như Ba gà mổ, lại là một kẻ từng… góp phần gây ra nông nỗi cho mình; nên khách ăn phở quen thường kín đáo nhìn Hai thọt nghiến răng “hầu hạ” Ba gà mổ mà mỉm mỉm cười.

Thiệt tình ngày trước Hai thọt đúng là dân chơi có số. Từng có thời gian ông ta thường trú trong khám Chí Hòa, nghe đâu phải gỡ đến vài cuốn lịch mới được lận lưng cái giấy tạm tha về với vợ. Giấy tạm tha đó gần giống như cái vòng kim cô trên đầu Tề Thiên Đại Thánh, ép cho Hai thọt mỗi lần nổi cơn là đành dằn xuống, nghiến răng uống… trà đá. Ba gà mổ cũng dân chơi cầu Ba Cẳng chứ chẳng vừa; nhưng giờ trông chẳng khác con gà chọi bị thương, ủ rũ co ro. Ba gà mổ có nghề nuôi gà nòi, nên sân nhà cũng thành sân đá gà.

Hai thọt và Ba gà mổ hình như quen nhau trong Chí Hòa, khi binh giáp rã rời sau nhiều trận bị truy lùng sát số. Anh chị cho lắm thì giờ cũng xụi râu về hầu vợ. Ba gà mổ vốn “hợp đồng” cung cấp gà nòi tử trận cho Hai thọt… nấu phở. Đổi lại, hợp đồng miệng cũng xác định rõ, phải để một cái đầu gà trong thùng nước lèo riêng cho Ba gà mổ dùng “làm thuốc” buổi sáng. Nuôi gà, đá gà nên không ngày nào là Ba gà mổ không phạm giới… sát kê.

Cả đời xử không biết bao nhiêu mạng gà, Ba dị đoan tin chuyện gà báo oán, nên giữa canh khuya mơ màng cứ chiêm bao thấy hồn gà than thở trách hờn, dọa dẫm. Vậy là Ba lùng tìm thầy giải hạn. Một bữa, Ba tìm được một “thầy” mà lạ là vừa thấy mặt Ba đã phán Ba là dân nuôi gà, nên Ba tin sái cổ. Nguyên do chuyện này có lẽ chỉ mình tôi biết. Đó là nhờ một hôm, có tay nuôi gà đá địch thủ của Ba gà mổ, vô tình ngồi ăn phở đúng ngay cái bàn là tôi. Anh ta nói, ông “thầy” giải hạn cho Ba gà mổ chẳng phải người xa lạ, mà cũng là dạng “độc cô cầu bại” trên chốn giang hồ gà qué.

Ông ta cũng đã biết Hai thọt với Ba gà mổ trong Chí Hòa. Tay địch thủ biết Ba gà mổ tin dị đoan nên chơi trác, phao tin mình biết thầy bói giỏi, đưa đẩy Ba gà mổ gặp “thầy”. Thầy phán xanh rờn: “Do tội sát sanh gà, nên sẽ đến ngày ông phải chịu hình phạt, nghe theo cách của thầy may ra mới không còn thấy ác mộng.

Mỗi sáng ông phải gặm vài cái đầu gà, ăn óc, nút mỏ ít nhất ba-bốn lần, để giải oan gia nghiệp báo. Nếu không sớm làm theo, có ngày sáng sáng sẽ gáy gà, còn ngáp ngáp gió như gà trúng cựa. Nặng hơn thì có thể tái hồi Chí Hòa trả nợ trong đó”. Vì thế, cứ mỗi sáng là Ba đều đặn tới quán Hai thọt, trợn trắng mà gặm mút ba bốn cái đầu gà chọi.

Ba gà mổ vừa nóng nảy vừa ngu độn; tin sống tin chết là gặm đầu gà sẽ cứu được ông ta thoát nợ trần. Ông ta hậm hực, càu nhàu, ngán ngẩm nhưng vẫn thành kính với những cuộc hành lễ không giống ai buổi sáng. Thế nhưng, đêm đêm thỉnh thoảng trong cơn ác mộng Ba vẫn giật mình bật dậy như người mộng du, đập “cánh” cất tiếng “ò ó o đời có thế mà thôi…”.

phunuonline

Các bài viết khác: